Những nghi thức làm lễ trước và sau an táng

Một số lễ trước lúc táng theo tục lệ

Phát tang

Chủ lễ khiến cho lễ phát tang. Số khăn tang và mũ mấn được khiến cho đủ mang số con cháu, được đặt vào một dòng mâm trên hương án. Trong khi chủ tế làm lễ thì con cháu quỳ ở dưới chiếu. Lễ xong thì chủ tế hoặc con trưởng phát khăn tang cho mọi người. Khăn tang của những người vắng mặt được để lại trên mâm. Con trai, con gái và con dâu đều thắt khăn tang, đội mũ mấn và buộc một vòng dây chuối ngang người. Con rể chỉ chít khăn tang mà không đội mũ mấn.

Cách để tang xưa đề cập rất rõ ràng: tang bố mẹ thì thắt khăn sổ mối, hai dải khăn dài ngắn khác nhau ví như bác mẹ 2 bên với người còn sống và bằng nhau nếu đã mất hết. Vợ để tang chồng cũng chít khăn sổ mối, 1 dải dài một dải ngắn, chồng để tang vợ thì chỉ quấn vòng tròn nói quanh nói quẩn đầu. Màu sắc khăn tang cũng chia theo thứ bậc.

  • Con, cháu quấn khăn trắng
  • Chắt thì khăn vàng
  • Chút thì đội khăn đỏ

Trong suốt thời gian đám tang luôn với con cháu túc trực cạnh săng khóc hờ.

Điếu phúng

Xưa, đám tang thường từ khi 3 – 4 giờ chiều hôm trước và kết thúc vào 9-10 giờ sáng hôm sau. Sau lễ phát tang cho tới trước khi quay cữu là khoảng thời kì để thân nhân, bà con, họ hàng, thôn trang điếu phúng. Từ khi khi này, người con trai trưởng phải đứng bên cạnh ban thờ vong, để cảm ơn các người tới phúng (đáp từ).

Người đến phúng đứng thành hàng trang nghiêm trước hương án, 1 người đại diện bước ra nói lời chia buồn với tang chủ, sau ấy họ dành một phút cúi đầu mặc niệm người quá cố. Người đáp từ nói lời cảm ơn. Mỗi lễ phúng được tấu một khúc nhạc riêng, được quy định sẵn, rất bài bản.

Tế vong

Buổi tối, khi người tới phúng viếng đã vãn thì phường hiếu làm lễ tế vong. Phía cuối sân, đối diện sở hữu bàn độc vong, người ta kê một chiếc bàn, trên bàn bày 1 bình hương, một chai rượu nhỏ, một đĩa xôi và một đĩa giết thịt luộc. Chủ tế tuần tự dâng từng thứ lên bàn độc vong. Mỗi lần dâng có 1 bài tế riêng.

Quay cữu

Đúng 12 giờ đêm, tiến hành quay cữu (xoay chiều quan tài). Trước lúc quay cữu, chủ lễ khiến lễ tế. Quan tài được quay theo chiều ngang của ngôi nhà, đầu hướng vào phía bàn thờ, chân hướng ra cửa. Nếu đặt trái lại, hồn sẽ không ra khỏi nhà. Quay cữu xong, mọi người có thế đi nghỉ.

Tế cơm

Sáng hôm sau, trước lúc đựng đám khoảng một giờ, thì làm lễ tế cơm. Xới một bát cơm tẻ (cơm lồng) 1 quả trứng luộc, 1 đĩa muối trắng và 1 chén nước lã. Chủ lễ lại tế và lần lượt dâng từng thứ một lên bàn độc vong (cách thức như tế vong tối hôm trước). Người xưa cho rằng, đấy là cho người từ trần ăn no trước khi xuất phát sang thế giới bên kia.

Nghi tiết an táng

Đựng đám

Cho tới hiện tại đưa tang, thầy cúng đọc văn tế, đọc xong thì ông vào trong nhà, cầm dao chém lên mặt hậu sự 3 nhát (xưa gọi phạt mộc, để xua tà ma, ác quỷ quấy rối linh hồn), sau ấy đậy kín nắp cỗ ván lại, đám tang xuất phát.

Thứ tự: Phật đình, long kiệu, cờ phướn, cầu kiều (đối sở hữu người quy phật), linh sa, cờ tang, xã kèn, xe tang, con cháu và rút cục là láng giềng hàng xóm.

Thường con trai trưởng đi đồng thời với cỗ ván. Trên suốt chặng trục đường đi thì thổi kèn, đánh trống, đánh phèng để xua đuổi ma tà, ác quỷ.

Xưa còn mang tục: khi đưa tang con trai trưởng phải chống gậy tre và đi xuôi (nếu tang cha), chống gậy vông, đi thụt lùi (nếu tang mẹ).

Hạ huyệt

Huyệt được con cháu đào từ hôm trước (ở huyệt đích đã chọn). Lúc hạ huyệt, người con trai trưởng lấp hòn đất ưu tiên, sau ấy các anh em, con cháu lần lượt ném 1 nắm đất vào huyệt mộ, biểu đạt ý nghĩa con cái đắp tuyển mộ cho cha mẹ. Khi này chiêu mộ mới chỉ đắp sơ sài (ấp mộ), rồi phủ vài mảng cỏ, thắp hương và đặt bát cơm bông lên chiêu tập. Các cụ đội cầu kiệu đi loanh quanh chiêu mộ, cầu kinh.

Khi xong lễ đám tang trở về, phải về bằng tuyến đường khác khi đi, tuyệt đối không đi về bằng tuyến đường cũ đi trước và cũng không khóc nữa, vì tương tự hồn người chết sẽ biết mà theo về.

Rước vong về thờ

Ảnh, bát hương cộng mâm quả thờ trên linh sa được rước về và đặt lên bàn độc. Tục xưa thì lập 1 ban thờ ở ngay nơi mà trước kia người quá cố nằm. Hai bên bàn độc treo các câu đối thành 2 hàng dọc. Trên bàn độc luôn mang hương khói, đèn nhang.